Ông Nhà Văn Già và Lão Ăn Mày

Ông Nhà Văn già sống cuộc đời lưu vong trên đất nước Mỹ. Ông bị cộng sản Việt Nam sau năm 1975 bắt tù 10 năm về tội “chống cộng trên thượng tầng kiến trúc (!)”. Ông được sang Mỹ theo diện HO. Ông sống một mình không gia đình vợ con - bọn họ từ chối không đi Mỹ vì “không muốn làm kẻ ăn mày nước Mỹ”. Giờ đây với tuổi ngoài 80 nghĩ lại ông thấy đám con cháu nói đúng. Ông đang là kẻ ăn mày nước Mỹ. Với số tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ, ông cũng đủ sống tần tiện qua năm tháng, nhưng không vui gì. Ông thường lui tới nhà thuốc Walgreen lấy thuốc theo toa Bác sỹ cho. Lúc đầu ông không để ý nhưng qua vài ba lần ông thấy một lão ăn mày ngồi tựa lưng cái cột bê tông trước cửa nhà thuốc. Lão người nhỏ nhắn teo tóp, tuổi khó đoán, có lẽ cũng trên dưới 80, áo quần rách rưới bẩn thỉu. Lão lặng lẽ ngồi nhìn người ra vào nhà thuốc không tỏ dấu kẻ xin bố thí. Mặt lão hằn vẻ khắc khổ chịu đựng. Ông Nhà Văn già đoán đây là người Mễ hoặc một xứ Nam Mỹ nào đó “trôi dạt” tới. Ông ngậm ngùi nghĩ thân phận mình cũng là kẻ ăn xin ăn mày nước Mỹ nhưng may mắn chưa đến nỗi phải đứng đường. Nhưng có lẽ nỗi đau nỗi nhục của kẻ tỵ nạn vong quốc lớn hơn lão ăn mày nhiều. Có một dấu ấn ông không bao giờ quên và sẽ đeo đuổi ông tới khi lìa trần. Đó là ngày ông tới bác sĩ gia đình khám bệnh. Trong lúc chuyện trò về thời sự, ông Nhà Văn già không nhớ đã vô tình nói câu gì làm ông Bác sĩ gia đình bực tức nói một câu như dao cứa vào da thịt. Ông Bác sĩ nói “Ông có biết ông là kẻ ăn hại sống bám vào sức lao động của chúng tôi không?”. Ông Nhà văn già sửng số bất ngờ trước câu nói này. Ông không muốn gây sự vì đó là sự thật, một sự thật tủi hổ đau lòng. Với tuổi đời 80 tới nước Mỹ sống ông đâu còn khả năng làm việc nên phải chịu đựng thân phận kẻ sống nhờ ăn bám nước Mỹ. Đó là một nỗi nhục bên nỗi nhục vong quốc. Đồng thời một ý nghĩ đến với ông. Ông muốn đáp lời ông bác sĩ ngay khi đó: “Đúng, tôi sống bám vào nước Mỹ nhưng ông lại sống bám vào tôi, vào những tên già bệnh tật như tôi”. Nhưng ông Nhà văn già cố nhẫn nhục giữ sự im lặng. Sự nhẫn nhục này ông đã có trong những năm sống trong trại tù cải tạo của cộng sản.

Một hôm trong nhà thuốc bước ra ông Nhà Văn già tình cờ thấy một bà lớn tuổi cầm tờ giấy bạc một đồng đưa cho lão ăn mày. Lão thản nhiên bỏ tờ giấy bạc vào túi không hề tỏ sự cảm kích như thường thấy. Ông Nhà Văn già sinh tò mò (ông chưa bỏ thói quen tò mò của người viết văn) bước tới, lấy một tờ giấy bạc đưa lão. Lão cũng vẫn thản nhiên cầm tờ giấy bạc bỏ túi và vẫn không tỏ lộ sự biết ơn. Rồi những lần sau lần sau nữa cũng vậy. Ông Nhà Văn già bắt chuyện hỏi han xứ sở và vợ con nhưng lão ăn mày không đáp. Có lẽ lão không biết tiếng Mỹ. Một hôm trời lạnh lắm, ông Nhà Văn già tới nhà thuốc lấy thuốc thấy lão ăn mày vẫn ngồi đó nhưng thân thể run lên vì lạnh. Với bộ quần áo cũ rách độc nhất lão ta sao chịu đựng nổi sự rét mướt. Nghĩ vậy hôm sau ông Nhà Văn già tới Goodwill mua một cái áo dạ cũ mang tới nhà thuốc tặng lão ăn mày. Nhưng nhìn quanh không thấy lão đâu. Hôm sau cũng không thấy. Ông Nhà Văn già đoán lão bị bệnh hoặc đã qua đời vì không chịu đựng nổi rét mướt hành hạ. Nghĩ vậy nhưng ông Nhà Văn già không bỏ cuộc vẫn hy vọng. Hàng ngày ông mang cái áo dạ cũ tới nhà thuốc. Tới ngày thứ tư thì ông Nhà Văn già “gặp” lại lão ăn mày ngồi co ro chỗ cũ. Ông mừng lắm như thấy lại người bạn thân. Ông đưa áo cho lão ra hiệu mặc vào. Lão hơi ngạc nhiên và vẫn ngồi mặc áo. Ông Nhà Văn già vét túi được 10 đồng đưa lão. Lần này đôi mắt kèm nhèm của lão chớp chớp. Mấy năm trời “hành nghề” chưa bao giờ lão được người cho số tiền lớn như vậy. Còn ông Nhà Văn già sau khi tặng áo tặng tiền ra về trong lòng cảm thấy nhẹ nhàng vui vui. Mấy ngày sau ông có người bạn xa tới thăm và mời ông về nhà họ chơi nhân Lễ Giáng Sinh. Trong dịp vui chơi chuyện trò, ông Nhà Văn già quên không còn nhớ tới lão ăn mày nữa. Có được số tiền 10 đồng lão ăn mày tự thưởng cho mình mua ngay ổ bánh mì kẹp thịt và chai nước ngọt. Tiền còn dư 2 đồng lão mua một tờ vé số cầu may. Lão nhét tờ vé số vào túi áo dạ do ông Nhà Văn già tặng và sau lão quên khuấy tờ vé số. Hôm đó lão đang ngồi ngáp vặt trước nhà thuốc chẳng có ma nào quan tâm bố thí thì nghe thấy hai người đi tới nhà thuốc nói với nhau bằng tiếng Mễ số độc đắc xổ kỳ này có người trong Thành phố trúng. Lão ăn mày trực nhớ tờ vé số của mình. Nhờ người coi và lão không tin sự thật xẩy ra, lão trúng độc đắc! Có được số tiền quá lớn “từ trên trời rơi xuống” lão trở thành triệu phú và nghĩ ngay tới người đã cho lão 10 đồng. Nhưng biết tìm đâu ông khách này? Người ta mách lão đăng báo tìm ân nhân và lão đã đăng báo. Không biết ông Nhà Văn già có đọc báo thấy tin nhắn này không.

Thanh Thương Hoàng