Vĩnh biệt nhà báo Hồ Văn Đồng (1923 – 2006)
Tin nhà báo kỳ cựu Hồ Văn Đồng từ trần vào buổi chiều ngày 30 tháng 3 năm 2006 tại bệnh viện Fairfax Hospital, Virginia không khiến tôi ngạc nhiên vì anh bị bạo bệnh phải nhập viện cả tháng nay rồi. Tuy biết tin dữ sẽ đến trong từng giờ từng ngày mà sao khi nhận được tin anh mất tôi vẫn ngẩn ngơ bàng hoàng rồi xúc động đến lặng người. Dễ chừng đến hơn ba năm (có lẽ từ ngày tôi tổ chức ra mắt cuốn sách "Hắc Thư Về Chủ Nghĩa Cộng Sản" cho anh tại San Jose) tôi và anh không gặp lại nhau, chỉ thỉnh thoảng chuyện trò qua điện thoại. Anh sống tại vùng Virginia từ ngày rời nước sang đây.
Hồ Văn Đồng sinh năm 1923 tại Quảng Ngãi. Sau khi học hết bậc trung học anh đã rời ghế nhà trường theo đuổi nghiệp báo chí rất sớm. Thoạt đầu anh làm phóng viên cho các nhật báo xuất bản ở Saigon rồi trước năm 1945 được bổ nhiệm Giám đốc cơ quan Việt Tấn Xã ở Hà Nội, một chức vụ so với tuổi anh lúc ấy quả thật là quá trẻ. Bước đường công danh đầu đời của anh tưởng cứ thế thăng tiến theo thời gian, nhưng không phải vậy! Sau biến cố năm 1945 anh trở vào Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Người vợ trẻ và đứa con trai đầu lòng của anh bị bom đạn Pháp giết chết tại vùng rừng núi Biên Hòa.
Sau khi nhận rõ chân tướng CS, anh bỏ về Thành (Saigon) tiếp tục viết báo và tham gia các hoạt động đảng phái để đấu tranh chính trị với CS. Anh là đảng viên đảng Đại Việt. Sau năm 1954 anh lần lượt giữ các chức vụ Tổng Thư Ký tòa soạn nhật báo, Tổng Thư Ký Nghiệp Đoàn Ký Giả Nam Việt do ký giả Nguyễn Kiên Giang làm Chủ Tịch. Lúc ấy trong Nam chỉ có duy nhất một Nghiệp Đoàn Ký Giả và một Hội Ái Hữu Ký Giả do toàn ký giả Miền Nam lãnh đạo. Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam mãi sau này (năm 1967) mới thành lập do một số nhà văn nhà báo trẻ cấp tiến (đa số từ Miền Bắc di cư vào) lãnh đạo và có lập trường chống cộng quyết liệt. ("Nhà Báo Nam Kỳ" Lý Quý Chung trong cuốn "Hồi Ký Không Tên" cũng nhận định như vậy).
Tới thời đệ nhị Cộng hòa anh Hồ Văn Đồng xuất bản tờ nhật báo Quyết Tiến do chính anh đứng chủ nhiệm, chủ bút. Tờ Quyết Tiến là tờ báo có khuynh hướng hoạt động chính trị hơn là thương mại và có lập trường chống cộng dứt khoát. Có rất nhiều nhà hoạt động chính trị tên tuổi cộng tác với tờ báo như lãnh tụ Quốc Dân Đảng, Trưởng Luật sư đoàn và Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên, nhà chính khách kiêm nhà văn nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, nhà văn Lê Xuyên, nhà báo nhà văn nhà chính khách Dân biểu Hồ Hữu Tường, nhà báo nhà chính khách Bộ trưởng Thông tin Trần Văn Ân vv... Một số ký giả của báo Quyết Tiến sau năm 1975 sang Hoa Kỳ tỵ nạn đã trở thành những nhà báo quen biết tên tuổi như Trọng Kim, chủ nhiệm kiêm chủ bút bán nguyệt san Ngày Nay ở Houston (TX), bà Minh Đức Hoài Trinh (Sau 1975 sang Pháp làm Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại), Ngọc Hoài Phương, chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Hồn Việt ở Quận Cam, Cao Sơn chủ bút Tuần báo Tin Việt News ở San Jose, Luật sư Trần Tử Huyền ở Oakland (Trưởng nam LS Trần Văn Tuyên) và một số ký giả khác hiện đang nắm giữ các địa vị quan trọng tại một số các báo trên đất Hoa Kỳ, Pháp và Úc châu.
Vào đầu thập niên 70 anh Hồ Văn Đồng sang Mỹ tu nghiệp khóa báo chí 2 năm. Về nước anh được bầu làm Phó Chủ Tịch Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế. Anh ra ứng cử Thượng Nghị Sỉ năm 1967, tất nhiên là thua rồi vì "người ta" đã chia chác nhau ghế ngay từ lúc cuộc bầu cử sắp khởi sự. Sau khi báo Quyết Tiến đình bản (vào đầu thập niên 70) anh Hồ Văn Đồng rời Saigon đi Phan Rang khai thác đồn điền trồng mía nhờ sự tiếp tay góp sức và tiền bạc của nhiều bạn bè nhưng bị bọn VC nằm vùng quấy phá quá anh đành chịu thua bỏ của chạy lấy người.
Từ ngày anh thôi làm báo tôi không thường gặp anh nữa. Như trên đã viết, ngoài nghề báo ra anh Hồ Văn Đồng rất say mê hoạt động chính trị. Anh không giấu giếm tham vọng của mình. Như mọi thanh niên đầy tham vọng khác, anh muốn có một ngày áo gấm về làng nhưng quả trời chẳng chiều lòng người, bao năm vùng vẫy khổ công nhọc trí anh vẫn chẳng có được chút địa vị cũng như quyền lực trong guồng máy cai trị của nhà nước! Vào thời đại chúng ta đang sống đây tài năng và đức độ của con người chưa phải là yếu tố quyết định để tiến thân mà là phe cánh, đảng phái và nhất là phải biết đi bằng lưng, bằng hai đầu gối. Anh Hồ Văn Đồng không thuộc "típ" người này. Anh tính tình nóng nẩy thấy việc bất như ý là nổi sung chửi toáng lên ngay thì làm sao mà các đàn anh chính khách "thương" cho được để nâng đỡ cất nhắc trên con đường quan quyền! Làm chủ một nhật báo tương đối lớn trong thời đệ nhị Cộng Hòa nhưng anh vẫn là một chủ báo nghèo. Tôi thấy anh thường xuyên chạy xuôi ngược đôn đáo lo tiền cho tờ báo. Nhất là vào những ngày cuối tháng anh cứ chạy cuống lên để có tiền lương cho anh em ký giả, thợ in. Hơn một lần "kẹt quá" (anh nói) anh đã đến "ăn vạ" tôi, mặc dầu anh biết tôi chẳng giầu có gì hơn anh.
Anh bị CSVN bắt lần đầu vào đầu năm 1976 trong chiến dịch truy bắt "Văn Nghệ Sĩ Báo Chí Miền Nam phản động". Chiến dịch này (mệnh danh là chiến dịch X2 sau chiến dịch X1 đánh tư sản) hơn một trăm nhà báo, nhà văn, nhà thơ tên tuổi Miền Nam bị CS bắt. Một số bị nhốt tại khám Chí Hòa, một số bị nhốt tại trại Lê Văn Duyệt (T20) sau chợ Bà Chiểu Gia Định.
Có một kỷ niệm nhỏ liên quan tới tôi và anh Hồ Văn Đồng tưởng cũng nên nhắc lại ở đây. Tôi là người đầu tiên trong số anh em báo chí, văn nghệ sĩ bị gọi lên hỏi cung. Cán bộ công an CS ù quan niệm chức vụ Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả VN là rất quan trọng do chính quyền VN và CIA Mỹ dựng lên chống cộng cũng giống như chức vụ Chủ tịch Hội Nhà Báo VN ở Hà Nội do đảng CS đưa ra (Người này phải là Uy viên Trung ương đảng ngang với cấp Bộ trưởng). Như vậy rõ ràng tôi là một "tay tổ" rất quan trọng của làng báo VNCH. Thực ra Nghiệp đoàn Ký giả VN là một hội tư được thành lập để bảo vệ quyền lợi anh em ký giả. Chức vụ Chủ tịch và cả Ban Chấp hành là do anh em ký giả tín nhiệm bầu lên. Sau mấy ngày hỏi cung họ tống tôi vào biệt giam (cát sô) chỉ vì tôi không chịu nhận tội làm CIA đã sang Do Thái nghiên cứu về "Ki bút", (một thứ hợp tác xã của Do Thái rất thành công) để về lập Làng Báo Chí với mưu đồ tập trung tất cả anh em báo chí văn nghệ sĩ vào một chỗ như ấp chiến lược để dễ bề thao túng, kiểm soát, mua chuộc và cả đàn áp! Tôi cương quyết bác bỏ vì thực sự tôi không làm cho CIA và chưa đi Do Thái bao giờ. "Quay" tôi hơn một tuần lễ về cái "tội" đi Do Thái họ mới ngưng tra vấn vì phát giác ra người đi Do Thái là anh Hồ Văn Đồng chứ không phải tôi. Khi được tha về đời nhắc lại chuyện này anh Hồ Văn Đồng cười hề hề nói: "Trong chuyến rong chơi này moa đã gặp một cô gái Do Thái trẻ đẹp và hai đứa moa đã có một cuộc tình tuy ngắn ngủi nhưng rất thơ mộng tuyệt vời". Rồi anh đưa ảnh người đẹp cho tôi "chiêm ngưỡng". Cô gái Do Thái quả là tuyệt vời, có nét đẹp phảng phất như cô gái Thành Bát Đạt của xứ Ba Tư (trong chuyện Nghìn Lẻ Một Đêm) đầy hấp dẫn và quyến rũ! Đúng là quýt làm cam chịu. Anh lại cười hề hề nói với tôi như thế!
Tôi là người đầu tiên bị nhốt vào "cát sô" tại dẫy B1 phòng 11. Dẫy "cát sô" này có tất cả 25 "cái chuồng" (mà CSVN gọi một cách văn hoa là "phòng biệt giam"). Sau khoảng nửa tháng tôi thấùy các anh Hồ Văn Đồng, Doãn Quốc Sỹ, Trịnh Viết Thành, Như Phong Lê Văn Tiến, Họa sỹ Chóe, Dân biểu kiêm nhà báo Võ Long Triều lần lượt "chui" vào biệt giam. Tiếp theo là Tiến sĩ Mai Văn Lễ (Khoa trưởng Luật Khoa Đại học Huế), Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Huyềàn Quang và Linh Mục Đỗ Bác Ái, kẻ trước người sau vào biệt giam cùng dẫy với tôi. Sau hơn một năm "làm việc" (tra vấn hỏi cung), hơn hai phần ba anh chị em văn nghệ sĩ báo chí được tha về. Số còn lại khoảng 20 người bị đưa đi đầy tại trại lao động cải tạo Gia Trung giữa rừng núi Pleiku. Trong số này có các anh Ngô Công Minh, Hồ Văn Đồng, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Lý Đại Nguyên, Mặc Thu, Trần Dạ Từ, Thái Thủy, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, Cao Sơn, Thanh Thương Hoàng v..v...
Thời gian bị giam tại trại Gia Trung tất cả tù nhân đều bị đói và làm việc quá sức, nhất là với anh em báo chí văn nghệ sĩ, những người không quen lao động chân tay. Đói thì đầu gối phải bò, nếu không sẽ gục ngã vì đói. Trừ một số người giầu có được gia đình thăm nuôi đều đặn và đầy đủ, còn số đông đều bất đắc dĩ trở thành những chàng "diệu thủ thư sinh" (một nhân vật ăn cắp nổi tiếng trong tiểu thuyết của nhà văn Kim Dung) trong cái việc lấy trộm rau củ của trại ăn tươi nuốt sống. Anh Hồ Văn Đồng là một trong những "cao thủ" về trò "va tạt linh tinh" (chữ của bọn cán bộ trại giam chỉ những người chuyên vi phạm nội quy, lấy trộm rau quả của trại để "cải thiện"). Anh tuy lúc đó đã khá lớn tuổi nhưng trong công việc này anh nhanh tay nhanh chân chẳng thua kém gì anh em trẻ.
Một lần, trong một buổi sinh hoạt chính trị đặc biệt dành riêng cho anh em báo chí văn nghệ sĩ, trong khi viên cán bộ đang thao thao thuyết trình về đường lối chính sách của đảng và nhà nước thì anh Hồ Văn Đồng nhắm mắt...ngủ! Viên cán bộ trông thấy liền sỉ vả anh và bắt làm tự kiểm! Anh chống chế là nhắm mắt để "suy tư về những lời cán bộ nói" làm bọn chúng tôi không nhịn nổi cười!
Vào khoảng năm 1980 (hay 1981) anh Hồ Văn Đồng được gọi tên tha. Về Saigon một thời gian ngắn thì anh liên lạc được với các bạn bè đồng nghiệp bên Mỹ, bên Pháp, bên Úc, nhất là với Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế để yêu cầu họ giúp đỡ các văn nghệ sĩ còn bị giam giữ. Tôi không còn nhớ rõ thời gian này chị Minh Đức Hoài Trinh hay anh Trần Thanh Hiệp làm Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Chỉ biết người đứng ra gửi tiền và thư về cho gia đình chúng tôi là anh Trần Tam Tiệp, (nguyên Trung tá Không Quân VNCH) làm Tổng Thư Ký. Để các anh em văn nghệ ký giả có thêm tiền, anh Hồ Văn Đồng điều đình với Trung tâm Văn Bút Quốc Tế chuyển số tiền cứu giúp cho bà vợ anh Huỳnh Thành Vị (nguyên chủ nhiệm nhật báo Đồng Nai và Chủ tịch Hội đồng Báo chí VN) ở Pháp mua thuốc Tây gửi về Saigon cho anh bán lấy tiền giao cho gia đình các anh em. Song song với việc này anh còn lo móc nối với một số bạn bè tù về tính chuyện vượt biển. Anh còn với tay ra cả Miền Trung để liên lạc với Ký giả Hương Nhân (tức nhà báo Hoàng Phúc bây giờ ở Quận Cam) cũng mới tù về lo việc "đại sự" cũng như vượt biển.
Đầu năm 1985 tôi được tha tù về Saigon, thỉnh thoảng buồn tình đạp xe đạp lên Saigon tán dóc với anh Hồ Văn Đồng và dùng với nhau bữa cơm đạm bạc. Hai anh chị sống trong một căn phòng trên lầu bốn của một tòa cao ốc cuối đường Võ Tánh (anh chị ở đây từ trước 1975). Một hôm anh bảo tôi ít ngày nữa moa sẽ đưa toa một khoản tiền kha khá để ăn Tết (do Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gửi về).
Buổi sáng một ngày đẹp trời tôi đạp xe vào thành phố (tôi ở Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ Biên Hòa) với chủ đích thăm bà già vợ, không hiểu "ma đưa lối quỷ đưa đường" thế nào mà tôi lại đạp xe tới nhà anh Hồ Văn Đồng. Tôi nghĩ giờ này chắc anh còn bận đi chợ Bến Thành mua đồ ăn, không có nhà. Thế mà không hiểu sao tôi vẫn cứ ngừng xe trước cửa ra vào của tòa binh đinh. Mọi khi người giữ xe là một bà (sống trong binh đinh), lần này là hai thanh niên lạ mặt. Tôi tưởng là người nhà bà ta nên không quan tâm, đâu ngờ đó là nhân viên công an chìm. Leo cầu thang lên tới lầu bốn tôi còn đang thở mệt trước khi bước tới phòng của anh Hồ Văn Đồng, tôi thấy cửa phòng của anh mở toang và có dăm bẩy người lạ mặt đứng ngồi. Thoạt đầu tôi giật mình, tưởng anh hay chị qua đời nên những người này tới lo tang sự! Thấy tôi, hai ba người xúm lại hỏi liền: "Anh hỏi ai?". Nghe giọng nói có vẻ hách dịch tôi linh cảm ngay chuyện chẳng lành. Tôi lúng túng trả lời tới gặp người quen phòng bên cạnh. Họ hỏi tên gì. Vì không quen nói dối nên tôi ú ớ khiến họ sinh nghi đòi xem giấy tờ. Tôi đưa ra giấy tạm tha của trại Gia Trung. Một anh công an khoảng ngoài 40 tuổi, có lẽ là trưởng toán, sau khi coi giấy xong nói như reo: "A, anh Thanh Thương Hoàng! Anh tới đây để nhận tiền anh Đồng giao phải không? Tụi CIA vừa gửi về nhiều lắm. Vào đây, mời anh vào đây chúng ta làm việc". Khi tôi bước vào phòng khách đã thấy gần mười người cả đàn ông và đàn bà ngồi trong đó. Mặt mày người nào cũng xanh mét sợ hãi. Trong số này tôi nhận thấy một anh bạn sĩ quan Hải quân cũng ở trên trại Gia Trung với tôi được tha về trước đó ít tháng. Tôi và anh chỉ đưa mắt nhìn nhau và anh khẽ lắc đầu. Họ bắt tôi đứng thẳng giơ hai tay lên để họ sờ nắn kiểm soát khắp người. Tôi đoán bọn này có lẽ là công an Thành nên mới ngang nhiên hành động như vậy. Sau đó họ bắt tôi vào ngồi trong một góc phòng ngủ có gần trăm hộp thuốc Tây lớn nhỏ nằm vương vải khắp phòng. Tất cả hộp giấy đựng thuốc đều bị bóc ra hết. Với thời giá lúc đó số thuốc này theo tôi ước tính cũng phải trên dăm bẩy chục triệu tiền Hồ. Tới lúc này tôi vẫn hoang mang không biết mình bị giữ lại đây vì lý do gì. Chẳng có lý nào bị bắt lại, vì từ ngày được tha về tôi không hề có một lời nói hay một hành động nào có thể gọi là chống phá cách mạng. Hàng tuần tôi vẫn phải lên Phường trình diện. Nhìn quanh tôi có ý tìm kiếm anh Hồ Văn Đồng nhưng không thấy bóng dáng anh đâu cả. Chỉ thấy chị Đồng (bà vợ sau) ngồi ủ rũ nơi bàn ăn với một số thức ăn còn bỏ dở. Chúng tôi bị cấm tuyệt đối không được trò chuyện với nhau. Cứ độ nửa tiếng, một giờ lại có người tới phòng của anh Hồ Văn Đồng và bị bắt giữ lại thẩm vấn liền. Riêng tôi họ không đả động gì tới. Buổi trưa họ hỏi bọn tôi ai có tiền họ sẽ đi mua thức ăn giúp. Như vậy rõ ràng là họ muốn giữ chúng tôi lại để chờ trên quyết định. Thỉnh thoảng họ cử một người đi, lát sau trở lại thầm thì nho nhỏ. Tôi trong túi chỉ có hơn chục bạc nên tôi nhờ họ mua giúp mấy điếu thuốc lá hút cầm hơi! Có cả thấy gần 20 người không quen biết nhau bị giữ lại trong căn phòng. Rồi từ đó tới chiều họ lần lượt lấy lời khai từng người, xong thả ra về. Anh bạn đồng tù sĩ quan Hải quân sau khi viết bản tự kiểm còn bị viên trưởng toán mắng cho một trận về cái tội viết thư (nhờ anh Hồ Văn Đồng chuyển giúp) sang Mỹ xin thân nhân "vài cây" để "cúng cho bọn cán bộ làm giấy tờ sớm được đi HO". Tuy bị kết tội nói xấu cán bộ cách mạng và bôi bác chế độ, anh ta cũng được tha về. Thế là chỉ còn mình tôi ở lại. Tôi cho rằng mình bị bắt vì trước đó sau khi lấy cung xong họ không thả tôi về như những người kia. Tôi đưa mắt ra hiệu nhờ anh bạn tù cựu sĩ quan Hải quân tới Làng Báo chí báo tin cho gia đình tôi biết. Mãi đến 9 giờ tối, giữa lúc tôi đói mèm muốn gục thì viên trưởng toán công an gọi tôi tới bên bàn nói chuyện. Anh ta bảo nhờ sự sáng suốt của cấp lãnh đạo (CA) nên họ tha tôi về và 8 giờ sáng hôm sau phải tới trụ sở công an Thành "làm việc". Từ đó tuần nào tôi cũng phải lên công an Thành trình diện để trả lời những câu hỏi mà tôi không hề biết hoặc liên quan tới! Mãi sau này tôi mới biết lý do anh Hồ Văn Đồng bị bắt (từ đêm hôm trước) là tại anh nhận nhiều lần thuốc men từ ngoại quốc gửi về. Và toán công an ngày hôm sau tiếp tục phục kích tại nhà anh Hồ Văn Đồng là để rình tóm đồng bọn. Những người tấp nập kéo tới nhà anh Hồ Văn Đồng buổi đó chỉ là để mua thuốc Tây đem đi các tỉnh bán.
Bị giam tại trại cải tạo Sông Bé mấy năm anh Hồ Văn Đồng được tha. Như "gà phải cáo" lần này tôi không tới thăm anh nữa. Ít lâu sau vào năm 1989 tôi nghe tin anh vượt biển và thoát sang Hoa Kỳ định cư tại Thành phố Falls Church, Virginia. Một hai năm sau anh bảo lãnh chị sang với anh. Nhưng vợ chồng sum họp với nhau mới được ít năm thì chị bị bạo bệnh qua đời.
Sau khi định cư tại Hoa Kỳ anh Hồ Văn Đồng hăng say bắt tay ngay vào công việc viết báo. Anh viết cho rất nhiều báo trên khắp đất Hoa Kỳ và cả Pháp, Úc. Tinh thần chống cộng ở anh càng quyết liệt. Anh cho xuất bản một cuốn hồi ký về tù đầy cộng sản: "Sương Như Búa Bổ". Mấy năm sau anh cho xuất bản một bộ sách dịch gồm hai cuốn khá dầy tố cáo tội ác của chủ nghĩa CS. Đó là cuốn "Hắc Thư Về Chủ Nghĩa CS". (Le Livre Noir Du Communisme). Đây là cuốn sách dịch công phu, đồ sộ và giá trị gồm toàn bài viết của những nhà văn nhà báo nổi tiếng thế giới. Anh cũng không quên anh em báo chí văn nghệ bên nhà. Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở trên đất Hoa Kỳ, anh liên lạc với Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế xin cấp một khoản tiền khá lớn gửi về cho anh em. Anh biên thư gửi công khai cho tôi qua đường bưu điện (thế mới rầy rà) nói là sẽ gửi số tiền này cho tôi. Anh yêu cầu tôi với tư cách chủ tịch Nghiệp đoàn báo chí cũ dùng số tiền này lập một cơ sở kỹ nghệ sản xuất nhỏ để thường xuyên sinh lợi tức có đủ tiền nuôi sống anh em, chứ bây giờ chia ra mỗi người một ít là hết ngay rồi lại tiếp tục con đường nghèo khổ. Tất nhiên tôi không dám đảm nhận vai trò này, vì tôi không muốn đi tù lần nữa, mặc dầu rất muốn đứng ra gánh vác công việc giúp anh em (vì CS đâu có chịu tin công việc hoàn toàn thuần túy nhân đạo này!).
Anh Hồ Văn Đồng là một người năng động, suốt đời mải mê say sưa yêu thích làm báo. Về già anh mắc thêm tính cả tin. Ai rủ rê anh làm báo là anh sốt sắng hưởng ứng liền, anh không biết đó là câu chuyện người ta nói chơi cho có chuyện nói. Một lần khoảng một giờ khuya anh ở Virginia gọi điện thoại mời tôi làm chủ bút tờ nhật báo, vì có người sẵn sàng bỏ ra một triệu đô để anh làm báo. Nếu tôi đồng ý ngay sáng hôm sau anh sẽ book vé cho tôi bay lên đó. Tôi hỏi sao anh không làm lại mời tôi. Anh bảo anh lớn tuổi rồi nên chỉ giữ chân cố vấn và chỉ đạo bên trong thôi. Lần khác cũng vào nửa đêm anh gọi điện thoại đánh thức tôi dậy để báo tin có người bạn triệu phú ở Houston bỏ bạc triệu ra cho anh làm đài phát thanh. Anh lại mời tôi làm sếp.
Với tính tình bộc trực, nóng nẩy hay cáu gắt và nói năng thẳng thừng đốp chát, anh đã làm nhiều người mất lòng, kể cả các bạn thân. Anh thuộc tính người hiếu động không biết mệt mỏi, nhưng không biết rằng mình đã trên tuổi "thất thập cổ lai hy", lịch sử đã sang trang và thời thế đã thuộc về lớp người khác. Thời gian không còn ủng hộ anh và những người thuộc lớp tuổi như anh nữa! Mặc dù lửa trong anh còn nhiều nhưng quả thực lực bất tòng tâm rồi anh Hồ Văn Đồng ơi! Bắt chước người xưa tôi khóc anh không nước mắt nhưng lòng đau như cắt. Cái con đường sinh tử một chiều rồi ai cũng phải đi qua. Khóc anh khác gì khóc cho tôi, cho thế hệ chúng ta - những con dã tràng xe cát biển đông...! Bây giờ anh nằm đó trong cỗ quan tài chật hẹp, chắc anh khó mà nhắm mắt nổi vì đường đi chưa tới!
Vĩnh biệt anh, một người bạn, một người anh, một đồng nghiệp kỳ cựu hiếm hoi, trải qua một cuộc biển dâu, trải qua một trận đại hồng thủy còn sống sót nơi xứ người mãi tới ngày hôm nay!
THANH THƯƠNG HOÀNG

