Nhân ngày giỗ năm thứ hai nhà văn Lê Xuyên, vài kỷ niệm nhỏ về nhà văn Lê Xuyên
Thấm thoát thế mà nhà văn nhà báo Lê Xuyên qua đời đã hai năm. Anh mất ngày 2 tháng 3 năm 2004, thọ 77 tuổi. Vào đầu năm 1976, sau khi tương đối "bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng" rồi cộng sản Việt Nam bắt đầu mở "mặt trận" cướp của bắt người tại miền Nam. Mở đầu là chiến dịch mệnh danh X1 đánh tư sản. Tiếp theo là chiến dịch X2 lùng bắt văn nghệ sĩ, ký giả. Có hơn một trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đạo diễn, kịch sĩ, hoạ sĩ bị bắt. Sau khi bị giam ở Sở công an Thành (đường Trần Hưng Đạo, Nha Cảnh sát Đô Thành cũ) được một tuần lễ họ chuyển khoảng 5, 60 người tới T20 (trại giam Lê Văn Duyệt cũ bên chợ Bà Chiểu). Số còn lại thì đi khám Chí Hòa. Tất nhiên trên đường di chuyển bằng xe hơi chở heo bít bùng, họ còng tay chúng tôi, hai người chung một còng. Lúc đó vào khoảng 10 giờ đêm, sau khi làm thủ tục "nhập trại" xong, tôi được một viên cai tù đưa vào phòng số 10 là phòng giam chót của Khu C1. Phòng tối tăm hôi hám. Khi cửa phòng mở ra một "mùi tù" xông vào mũi tôi vô cùng khó chịu. Mấy hôm trước bị nhốt trên Sở công an Thành tuy "mùi tù" cũng đã nặng nhưng chưa đến nỗi nặng nề khủng khiếp như ở đây, vì phòng giam thì nhỏ người lại quá đông mà trời lại rất nồng nực. Những người là người lúc nhúc chen chúc nằm bên nhau. Thấy tôi vào một vài người ngồi nhỏm dậy nhìn, rồi nằm xuống ngay.
Sáng hôm sau trở dậy, một anh bạn tù trẻ nằm bên hỏi tôi làm nghề gì và bị bắt vì tội gì. Khi biết tôi viết văn viết báo, anh ta hỏi có biết Chú Tư Cầu không? Tôi đáp không hề quen biết ai là Tư Cầu cả. "Thế chú có biết nhà văn Lê Xuyên không?". Lúc đó tôi mới nhớ ra Chú Tư Cầu là tên một nhân vật và cũng là tên cuốn truyện của Lê Xuyên. "Chú ấy ngồi trong góc phòng kia kià". Nhìn theo tay anh bạn tù chỉ, tôi thấy một thân hình người nhỏ thó, ốm yếu tong teo, mặt mũi hốc hác đang ngồi bó gối và mắt nhìn lơ đãng đâu đâu. Khi mới bị bắt giam những anh em tù bị bắt trước đã dặn tôi nhiều lần là nếu có gặp người quen thân (trong tù) tốt hơn hết là nên làm mặt lạ. Do đó tôi chỉ đưa mắt nhìn Lê Xuyên. Không biết anh có nhận ra tôi không mà thấy anh vẫn tỉnh khô coi như không quan tâm gì tới tên tù mới vào. Mấy hôm sau Lê Xuyên được gọi tên đem quần áo rời khỏi phòng. Tôi không biết anh chuyển sang phòng khác hay được tha về. Lê Xuyên bị bắt trước bọn tôi mấy tháng. Theo lời kể lại của anh em tù giam chung phòng thì anh rất ít nói, cả ngày chỉ ngồi yên một chỗ, hút thuốc lá. Tính anh xưa nay vốn ít nói và nói thì nhỏ nhẹ. Rất ít khi thấy anh to tiếng. Bạn bè ai cũng quý mến anh về tính tình đôn hậu, hiền lành.
Vào tuổi mới lớn anh đi theo kháng chiến đánh Pháp nhưng anh nhìn thấy bộ mặt thật của CS rất sớm. Và anh chống cộng ngay trong lòng địch. Rồi anh bỏ về Thành viết văn viết báo. Anh khởi sự viết từ thập niên 50. Mới đầu anh làm phóng viên rồi sau đó Tổng Thư ký Tòa soạn và viết truyện dài feuilleton cho các nhật báo. Anh nổi tiếng ngay từ đầu với cuốn truyện dài đầu tay "Chú Tư Cầu". Anh rất có tài viết feuilleton, rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng rất...dâm (nhưng dâm một cách văn hoa, tế nhị, hóm hỉnh, gợi cảm chứ không hề tục tĩu). Độc giả hàng ngày nôn nóng chờ báo phát hành để coi tiếp "Chú Tư". Chúng tôi vẫn nói đùa anh là "văn chương đặc Nam kỳ". Anh viết được khoảng 7, 8 cuốn truyện dài, và cuốn nào cũng đăng feuilleton rồi mới in thành sách.
Năm 1985 tù về tôi được biết anh được thả từ lâu và hiện đang ngồi bán thuốc lá lẻ tại một ngã tư đường Bà Hạt. Tôi không có ý định thăm anh vì tôi đang thời kỳ trình diện công an hàng tuần. Mấy tháng sau nhân có người bạn ở nước ngoài gửi về tặng anh một khoản tiền nhờ tôi chuyển. Nhờ sự chỉ dẫn của người quen tôi đạp xe tìm mãi mới tới chỗ anh ngồi bán thuốc. Nhưng khi ngừng lại trước một cái tủ thuốc lá nhỏ xíu bên lề đường tôi không tài nào nhận ra được Lê Xuyên. Trước mặt tôi là một ông già gầy còm áo bỏ ngoài quần cũ kỹ với chòm râu dài thưa bạc phơ, đầu đội cái mũ "phớt" mầu tro tồi tàn thủng lỗ chỗ. Không có một nét gì phảng phất nhà văn nhà báo Lê Xuyên cả. Tôi vờ hỏi mua thuốc. Không thèm ngửng nhìn khách, ông hỏi thuốc gì. Tôi nói thuốc Chú Tư Cầu. Ông ngửng nhìn tôi rất nhanh và trả lời liền: "đây không có bán thứ thuốc đó". Dứt lời ông quay mặt đi nơi khác như không muốn tiếp chuyện. Tôi nghĩ mình lầm, đây không phải là Lê Xuyên. Trước khi đạp xe đi tôi cố dò thử một lần nữa cho rõ thực hư. Tôi nói trống không: "Biết tìm lão Lê Xuyên ở đâu bây giờ. Thôi đành gửi trả lại tiền cho anh bạn bên Mỹ vậy". Có lẽ nghe rõ tiếng tôi nói và bấy giờ mới nhận ra tôi, anh kêu khẽ: "A, ông chủ tịch!". Đúng là Lê Xuyên rồi! (Lâu lắm tôi mới lại được nghe có người kêu mình là ông chủ tịch. Lê Xuyên là đoàn viên trong Nghiệp Đoàn Ký Giả của tôi). Tôi giả vờ làm mặt lạ hỏi: "Cụ biết tôi là ai không?". Anh cười: "Thanh Thương Hoàng chứ còn ai nữa!". Thế là chúng tôi tay bắt mặt mừng. Anh bóc gói thuốc ba số 5 mời tôi. (Thuốc lá ba số 5 lúc đó mắc tiền lắm). Rồi lại kêu cho tôi ly cà phê đá nữa. Chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau nhiều hơn nói. Trông trước nhìn sau thấy vắng người, tôi hỏi nhỏ: "Hồi này có âm thầm viết lách được gì không?". Anh lắc đầu: "Lo ăn còn chưa xong, viết cái nỗi gì!". Tới giờ phút này ngồi viết những dòng tưởng niệm anh, tôi vẫn không hiểu anh trả lời thực hay không, có lẽ vì ám ảnh bởi nỗi nghi ngờ, nỗi sợ hãi (do chế độ tạo nên) đã khiến chúng tôi mất hết lòng tin và sự thành thật với cả vợ con, bạn bè thân thiết. Không ai dám mở rộng hai bàn tay ra với ai cả.
Tôi còn gặp lại anh một hai lần nữa đi cùng các anh Văn Quang, Thái Thủy, Vương Đức Lệ. Như lần đầu gặp lại, anh vẫn nụ cười buồn héo hắt và nói năng vẫn nhỏ nhẹ chậm rãi. Chúng tôi tránh những câu chuyện có tính cách chính trị và cả chuyện văn chương. Tuy nghèo khổ, vất vả - thường xuyên túng thiếu, tôi chưa hề thấy anh có một lời than thở hay kêu ca. Anh có thể cầm bút trở lại với chế độ mới để kiếm sống (và bọn cầm quyền cũng muốn thế để có thêm cơ hội tuyên truyền) nhưng anh đã không làm vậy. Anh sống âm thầm câm nín bên lề cuộc đời, chịu đựng đói khổ để giữ cho mình trọn vẹn "tiết sạch giá trong". Những người cầm bút chúng tôi thật chẳng may sinh ra ở thời đại này tuy đầy khổ lụy nhưng cũng đầy hãnh diện: chúng tôi không biết cúi đầu trước bạo quyền. Cây trúc tuy mảnh mai nghiêng ngả vì giông bão vùi dập nhưng nhất định không bị gẫy! Một lần, ngồi trong cái quán cóc hẻm nhỏ vắng vẻ. Lê Xuyên kể chúng tôi nghe câu chuyện nhà. Sau một thời gian tù về, cậu con út của anh (năm đó 14, 15 tuổi) một hôm thắc mắc hỏi anh: "Bố ơi, Chú Tư Cầu là ai vậy?". Anh đáp: "Là thằng bố mày chứ còn ai!". Cậu con cãi: "Bố là Lê Bình Tăng kia mà!" (Lê Bình Tăng là tên thật của Lê Xuyên). Đến con mình còn không biết bố mình trước đây là một nhà văn tên tuổi của Miền Nam! Trước 30 tháng tư 1975 có thể nói khắp miền Nam từ trí thức tới bình dân lao động không ai không biết đến Chú Tư Cầu. Người ta đã hòa lẫn tên anh với tên nhân vật truyện của anh. Họ say mê đọc truyện anh chỉ kém nhà văn kiếm hiệp Trung Hoa tài danh Kim Dung một bậc. Thế mà bây giờ vật đổi sao dời, đến con anh cũng còn không biết bố mình là ai!
Ngày 2 tháng 3 năm 2004, Văn Quang email báo tin Lê Xuyên từ trần và anh chuyển cả ảnh đám tang cho tôi. Đám tang đơn sơ, người đưa tiễn khoảng 20 người. Nếu là ngày xưa, tôi nghĩ, ít ra cũng có cả ngàn người đưa tiễn anh.
Nỗi đau của những người cầm bút chúng tôi khi nước mất, ngoài tù đầy khốn khổ nhục nhã còn bị mất luôn cả cái tên dầy công gầy dựng bằng tim óc trong bao năm mới có!
Thanh Thương Hoàng

